Bỏ qua, vào nội dung
Tranh minh họa Hồi II: Mục tử nhân lành, người hiến mạng vì đoàn chiên

Mục tử nhân lành, người hiến mạng vì đoàn chiên

Đọc miễn phí · khoảng 6 phút

Cỡ chữ

Đức Giêsu nói với đám đông ở Giêrusalem rằng Ngài là cửa cho chiên ra vào và là mục tử nhân lành, sẵn lòng hy sinh mạng sống cho đàn chiên khi sói đến, khác người làm thuê bỏ chạy.

Đêm trên một sườn đồi trống. Đàn chiên nằm sát vào nhau cho ấm. Rồi ngoài rìa bãi, trong bóng tối, có con gì động đậy, thấp sát mặt đất. Một con sói.

Người canh đàn chiên đêm ấy là người làm thuê theo mùa. Anh nhìn con sói, nhìn đàn chiên, rồi nghĩ tới tấm thân mình: người ta trả công cho mình để canh chiên, đâu có trả để mình chết thay cho chiên. Anh bỏ chạy, và sau lưng anh đàn chiên chạy tán loạn trong đêm tối.

Người nghe Đức Giêsu ở Giêrusalem hôm ấy ai cũng biết những đêm như thế. Trong số đó có mấy người Pharisêu, chính những người vừa đuổi anh mù được sáng mắt ra khỏi hội đường; họ vẫn còn đứng gần Ngài. Họ vừa hỏi: “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?” Đức Giêsu tiếp tục nói với họ, và Ngài nói về chuyện chiên cừu.

Phần nhiều làng thời ấy có một ràn chiên, tức là một vòng tường đá bao quanh, chỉ chừa một lối vào hẹp. Ban đêm, chiên của nhiều nhà được lùa chung vào đó, có người giữ cửa canh chừng. Sáng ra, từng người chăn đến đứng ở cửa mà gọi, và chiên của ai tự tách khỏi bầy chung mà chạy về phía chủ mình.

Ngài nói:

“Thật, tôi bảo thật các ông: Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp.”

Còn người mục tử thì đi qua cửa mà vào.

“Anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra.”

Anh đi trước, “và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh.”

Những người nghe không hiểu, dù hình ảnh ấy lấy ngay từ Sách Thánh của họ. Xưa kia, qua ngôn sứ Êdêkien, Thiên Chúa đã trách những người chăn dắt Israel chỉ lo nuôi thân mình mà để đàn chiên tan tác, và Người hứa: “Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta.” Mới đây thôi, chính những người chăn dắt dân Người đã đuổi đi người đàn ông từ hồ Silôác trở về với đôi mắt sáng.

Vậy Đức Giêsu nói rõ hơn:

“Tôi là cửa cho chiên ra vào.”

Ngoài đồi hoang, có những ràn chiên không có cánh cửa nào, và người chăn nằm ngủ chắn ngang ngay lối vào, giống như bác chăn vịt ở quê mình đêm đêm trải manh chiếu ngủ ngay miệng quây vịt ngoài đồng. Muốn vào hay ra, con gì cũng phải bước qua người anh. Ngài nói tiếp:

“Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ. Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá hủy. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.”

Rồi Ngài nói tới người làm thuê bỏ chạy, giọng không chút giận dữ:

“Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên.”

Người mục tử ở lại

Người chăn thật thì biết đàn chiên của mình từng con một: con nào đang chửa, con nào đi khập khiễng, con nào hơi động là giật mình. Hồi còn trẻ, cậu Đavít đã từng đuổi theo sư tử và gấu để giật con chiên ra khỏi miệng chúng. Khi sói đến, người chăn ở lại.

Rồi Đức Giêsu nói:

“Tôi chính là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.”

Ngài nói lại một lần nữa:

“Tôi chính là mục tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.”

Rồi Ngài nhìn ra xa hơn đám đông đang đứng trước mặt:

“Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử.”

Và Ngài nói một điều mà lúc ấy chưa ai ở đó hiểu nổi:

“Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy.”

Chỉ ít tháng nữa thôi, các thượng tế sẽ tưởng chính họ đã định đoạt cho Ngài phải chết, và Philatô sẽ tưởng rằng chính ông đã tuyên án.

Dưới hành lang Salômôn

Những lời ấy làm đám đông chia làm hai. Nhiều người nói:

“Ông ta bị quỷ ám, ông ta điên rồi. Nghe ông ta làm gì?”

Những người khác lại nhớ tới anh ăn xin ở hồ Silôác:

“Quỷ làm sao mở mắt người mù được?”

Chừng hai tháng sau, vào mùa đông, Đức Giêsu trở lại Giêrusalem dự lễ Cung Hiến Đền thờ. Ngài đang đi đi lại lại dưới hành lang Salômôn thì người ta vây quanh Ngài:

“Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Kitô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết.”

Ngài lại trả lời họ bằng hình ảnh ràn chiên:

“Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.”

Rồi Ngài nói thêm:

“Tôi và Chúa Cha là một.”

Họ lượm đá. Đức Giêsu nhắc lại bao nhiêu việc tốt đẹp Ngài đã làm, rồi hỏi họ định ném đá Ngài vì việc nào. Họ đáp:

“Chúng tôi ném đá ông, không phải vì một việc tốt đẹp, nhưng vì một lời nói phạm thượng: ông là người phàm mà lại tự cho mình là Thiên Chúa.”

Họ lại tìm cách bắt Ngài, nhưng Ngài đã thoát khỏi tay họ. Ngài sang bên kia sông Giođan, đến chỗ ngày trước ông Gioan Tẩy Giả làm phép rửa, nơi Ngài đã bắt đầu đi rao giảng. Sau những hòn đá dưới hành lang Salômôn, Ngài về bên dòng sông yên tĩnh này và ở lại đó. Nhiều người tìm đến gặp Ngài, và họ bảo nhau rằng mọi điều ông Gioan Tẩy Giả nói về người này đều đúng cả. Thánh Gioan khép lại câu chuyện bằng một câu thật nhẹ nhàng: “Ở đó, nhiều người đã tin vào Đức Giêsu.”

Suy niệm

Đời bạn cũng có những đêm sói đến, chẳng hạn một món nợ không biết lấy gì trả. Đêm như thế, có người ở lại bên bạn, có người lặng lẽ rút đi. Ngài thì ở lại. Ngài thà chết chứ không để mất bạn. Ngài biết những ngày bạn lê bước khập khiễng, biết cả những tiếng động trong đêm làm bạn giật mình.

Giữa bao nhiêu giọng nói đang gọi bạn mỗi ngày, giọng nào gọi tên bạn như người chăn gọi từng con chiên của mình, và vẫn ở đó khi sói đến?

Ghi chú lịch sử và Tin Mừng (bấm để mở)

Ghi chú: Mục tử nhân lành: Ga 10,1-21; lễ Cung Hiến Đền thờ: Ga 10,22-42. Lời Thiên Chúa trách các mục tử Israel và hứa tự mình chăn dắt đàn chiên: Ed 34,1-16. Cậu Đavít giật chiên khỏi miệng sư tử và gấu: 1 Sm 17,34-35. Hành lang Salômôn là một dãy cột dài có mái che ở phía đông Đền thờ. Lễ Cung Hiến (người Do Thái gọi là Hanukkah) nhớ ngày ông Giuđa Macabê thanh tẩy và cung hiến lại Đền thờ năm 164 trước Công nguyên (1 Mcb 4,36-59); lễ này rơi vào khoảng tháng Mười Hai, còn lễ Lều vào khoảng tháng Chín, tháng Mười, nên giữa hai dịp lễ cách nhau chừng hai tháng. Cảnh người chăn nằm chắn ngang lối vào ràn là theo lời kể của những người từng đi qua miền Palestine về sau; Tin Mừng không tả. Đêm có sói và ý nghĩ của người làm thuê là cảnh người kể dựng ra từ chính lời dụ ngôn. Nơi ông Gioan làm phép rửa bên kia sông Giođan: Ga 1,28.

Hồi tiếp theo →“Chính Thầy là sự sống lại”, tiếng khóc và tiếng gọi ở Bêtania

Mai mở lại hanhtrinhcanve.com/hom-nay
để đọc Hồi của ngày mai.

Trang này miễn phí nhờ bạn đọc đồng hành. Tìm hiểu thêm