
Người mù từ thuở mới sinh, khi ánh sáng bị xét xử
Gần Đền thờ, Đức Giêsu trét bùn lên mắt người ăn xin mù từ thuở mới sinh và bảo anh đi rửa ở hồ Silôác. Anh sáng mắt, bị người Pharisêu đuổi đi, và Ngài đến tìm anh.
Mùa thu năm ấy, giữa những tháng rong ruổi, Đức Giêsu lên Giêrusalem dự lễ Lều, dù Ngài biết ở Giuđê có những người đang tìm giết Ngài. Một ngày sa-bát sau lễ, Ngài và các môn đệ đi ngang qua một người ăn xin ngồi gần Đền thờ. Anh bị mù từ thuở mới sinh.
Người ăn xin ấy biết thành phố qua tiếng động: tiếng dép sột soạt trên đá, tiếng đồng xu rơi vào cái bát trước mặt, tiếng người ta đứng ngay bên cạnh bàn tán về anh như thể anh không nghe được. Anh chưa bao giờ thấy mặt trời, cũng chưa bao giờ thấy mặt mẹ mình. Nhiều người bố thí cho anh vẫn thầm nghĩ anh phải chịu cảnh tối tăm ấy là đáng, chỉ có điều chẳng ai nói ra.
Mấy ông môn đệ dừng lại nhìn anh, và một người nói ra đúng cái điều mọi người vẫn nghĩ:
“Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến anh ta sinh ra đã mù? Anh ta hay cha mẹ anh ta?”
Thời ấy, người ta thường tin rằng hễ có đau khổ là có tội, và thế nào cũng phải có người đáng trách. Người mù ngồi đó, lại một lần nữa nghe những người lạ hỏi nhau về tội của mình.
Đức Giêsu không để câu hỏi ấy đè lên anh lâu. Ngài đáp:
“Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta. Nhưng là để công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh.”
Các môn đệ đi tìm người có lỗi. Còn Đức Giêsu nhìn người đàn ông đang ngồi trước mặt, và Ngài biết Thiên Chúa sắp làm cho anh một việc tốt lành. Rồi Ngài nói thêm:
“Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.”
Mấy hôm trước, suốt bảy ngày lễ Lều, người ta ăn ngủ trong những túp lều cành lá dựng trên mái nhà, và đêm đêm những ngọn đèn lớn thắp lên trong sân Đền thờ, sáng đến nỗi người ta bảo không có cái sân nào trong thành mà không hắt ánh đèn. Mỗi sáng, một tư tế cầm bình vàng xuống hồ Silôác múc nước, mang lên đổ bên cạnh bàn thờ. Giờ đèn lễ đã tắt. Người vừa nói câu ấy thì vẫn còn đây.
Nắm bùn trên mắt
Nói rồi, Đức Giêsu nhổ nước miếng xuống đất, lấy ngón tay trộn đất với nước miếng thành bùn.
Thuở ban đầu, Thiên Chúa đã lấy bụi đất nặn ra con người. Giờ Đức Giêsu trét bùn lên mắt anh. Bùn ướt và mát, còn đôi bàn tay trét bùn thì ấm.
“Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa.”
Thánh Gioan ghi thêm rằng Silôác có nghĩa là “người được sai phái”.
Anh đứng dậy và đi, không hỏi lại một câu, cũng không đòi ai dắt. Tiếng gậy gõ trên đá, anh lần từng bước xuống khu thành dưới, bùn khô dần và căng lại trên mặt. Anh đi ngang qua những người đứng nhìn, có kẻ cười cợt sau lưng. Hồ Silôác nằm ở đầu phía nam thành, rộng và lộ thiên, bốn phía có những bậc đá dẫn xuống mặt nước. Anh lấy chân dò tìm từng bậc một. Nước chạm tới chân, mát lạnh. Anh cúi xuống, vốc nước lên mặt, kỳ cho trôi lớp bùn, một lần, rồi một lần nữa.
Khi anh ngẩng đầu lên, có ánh sáng.
Thoạt tiên chói quá, anh phải nheo mắt lại. Rồi từng thứ một hiện ra, như bóng tối được vén lên từng lớp: mặt nước lấp lánh ngay dưới chân, màu những bậc đá anh vừa dò, những hình thù đang chuyển động mà phải một lúc sau anh mới biết đó là người. Phần lớn những gì anh thấy, anh chưa biết gọi tên là gì. Mấy chục năm anh biết thành phố này bằng đôi tai. Giờ anh đứng giữa lòng thành phố ấy, đôi mắt mở to.
Anh xuống hồ là người mù. Anh đã rửa, và khi về thì nhìn thấy được.
Hỏi tới hỏi lui
Hàng xóm không tin nổi mắt mình.
“Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao?”
Có người bảo chính hắn. Người khác lại bảo chỉ là đứa nào giống hắn thôi. Còn anh thì cứ một mực:
“Chính tôi đây!”
Người ta dẫn anh đến với những người Pharisêu, và vì hôm ấy là ngày sa-bát, nên họ bắt đầu hạch hỏi. Theo cách người ta giữ ngày nghỉ thời ấy, nhào bột là một việc làm bị cấm, mà nhào bùn thì cũng là nhào. Trong nhóm Pharisêu, có người quả quyết:
“Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát.”
Kẻ khác lại băn khoăn:
“Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy?”
Họ quay sang hỏi chính người được sáng mắt. Anh trả lời đơn sơ:
“Người là một vị ngôn sứ!”
Các nhà chức trách không chịu tin rằng anh đã từng bị mù, nên cho gọi cha mẹ anh đến. Lúc ấy, các nhà lãnh đạo đã đồng lòng với nhau rằng ai dám tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô sẽ bị trục xuất khỏi hội đường. Bị trục xuất là không còn được cùng bà con xóm giềng đọc kinh, mừng lễ; với một người Do Thái, mất những thứ ấy là mất gần như cả cuộc đời. Ông bà chỉ nhận đây là con mình và nó bị mù từ khi mới sinh. Ngoài ra, hai ông bà không dám nói thêm lời nào.
“Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó.”
Thế là họ gọi anh lên lần thứ hai:
“Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi.”
Anh không chịu nói theo ý họ:
“Ông ấy có tội hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi mù, mà nay tôi nhìn thấy.”
Họ lại vặn hỏi từ đầu. Người đàn ông này chưa một ngày được ngồi dưới chân một thầy thông luật, nhưng tới đây thì anh đã chán ngán lắm rồi:
“Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng?”
Một người ăn xin mà dám ăn nói như thế với họ thì quá lắm. Họ mắng:
“Mày sinh ra trong tội lỗi mà dám dạy đời chúng ta sao?”
Câu các môn đệ hỏi bên Đền thờ, giờ người ta ném lại vào mặt anh như một lời sỉ nhục. Rồi họ đuổi anh ra ngoài.
Cùng trong một ngày, anh được sáng mắt và mất chỗ đứng giữa dân mình. Đến cha mẹ ruột cũng không đứng ra bênh anh.
Đức Giêsu nghe tin họ đã đuổi anh ra, và Ngài đi tìm anh. Gặp được anh rồi, Ngài chỉ hỏi một câu:
“Anh có tin vào Con Người không?”
Anh chưa từng thấy mặt Đức Giêsu, vì lúc anh mở mắt được thì anh đang đứng một mình bên hồ nước. Nhưng anh nhận ra giọng nói này. Anh đã nghe giọng ấy bên Đền thờ, khi Ngài nói rằng chẳng ai phạm tội gì khiến anh phải mù.
“Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin?”
“Anh đang thấy Người. Chính Người đang nói chuyện với anh đây.”
Người đàn ông nhìn gương mặt ấy thật lâu. Giờ anh mới được thấy người đã trét bùn lên mắt mình. Anh nói:
“Lạy Chúa, tôi tin.”
Rồi anh sấp mình xuống thờ lạy Ngài.
Vài người Pharisêu đứng gần đó nghe được. Đức Giêsu nói:
“Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!”
Họ phật ý:
“Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?”
Đức Giêsu đáp:
“Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn!”
Suy niệm
Đức Giêsu nghe tin người ta đã đuổi anh ra, và Ngài đi tìm anh. Đến nay Ngài vẫn đi tìm như thế, và nhiều khi Ngài sai chính bạn đi.
Có khi trong giáo xứ bạn cũng có một bà cụ ngày trước sáng nào cũng ngồi ở hàng ghế thứ ba, rồi từ ngày nhà có chuyện, người ta xì xào sau lưng, bà thôi không đến nhà thờ nữa. Ai cũng thấy chỗ ngồi ấy trống, ai cũng nhắc tới bà, nhưng chẳng ai ghé nhà bà.
Đi tìm một người như thế nhiều lúc chỉ là một lần ghé qua gõ cửa, hay lễ Chúa nhật tới giữ sẵn một chỗ bên cạnh bạn và mời người ấy cùng ngồi. Chỉ cần người ấy biết rằng đã có người đi tìm mình. Trước khi đi, bạn xin Ngài một điều: Lạy Chúa, xin lấy chút bùn đất khiêm hạ xức vào mắt con, để con thấy được người mà con đã quen không nhìn.
Ghi chú lịch sử và Tin Mừng (bấm để mở)
Ghi chú: Người mù từ thuở mới sinh: Ga 9,1-41 (chỉ Thánh Gioan kể). Đức Giêsu lên Giêrusalem dự lễ Lều: Ga 7,1-14. Thánh Gioan đặt câu chuyện ngay sau những ngày lễ ấy (Ga 7,2.37), khi Đức Giêsu vừa nói “Tôi là ánh sáng thế gian” (Ga 8,12). Nghi lễ thắp đèn và lấy nước hồ Silôác trong dịp lễ Lều được sách Misna của người Do Thái mô tả (khảo luận Sukkah). Đức Chúa nặn con người từ bụi đất: St 2,7; nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành: Ga 1,3. Nhào bột nằm trong danh sách các việc cấm làm ngày sa-bát (Misna, khảo luận Shabbat 7,2). Hồ Silôác thời Đức Giêsu, với các bậc đá bốn phía, được các nhà khảo cổ tìm thấy năm 2004 ở phía nam thành cổ. Ở câu 35, nhiều bản chép tay cổ ghi “Con Người”, một số bản khác ghi “Con Thiên Chúa”.
Mai mở lại hanhtrinhcanve.com/hom-nay
để đọc Hồi của ngày mai.