
Tám mối phúc, mọi sự đảo ngược
Trên sườn đồi nhìn xuống hồ, Đức Giêsu ngồi giữa đám đông và dạy tám mối phúc, gọi là có phúc những người nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, xót thương, và cả người bị bách hại.
Sườn đồi lặng dần. Mấy bà mẹ suỵt con, mấy ông ngồi phía sau thôi bàn chuyện giá cá. Có người đã đi bộ hai ngày đường mới tới được chỗ này. Họ đã nghe kể những chuyện xảy ra ở Capharnaüm, và họ muốn biết người thầy mới này sẽ ban ra thứ luật gì. Họ đoán một vị ngôn sứ sẽ mở đầu bằng lời răn: phải làm thế này, không được làm thế kia.
Ngài mở miệng dạy họ, và tiếng đầu tiên Ngài nói ra là “Phúc thay”.
Ai ngồi đó cũng đã từng hát những thánh vịnh mở đầu bằng lời chúc phúc. Theo họ hiểu, người có phúc là người lẫm lúa đầy, con trai khỏe mạnh, ai nhìn vào cũng biết là được Thiên Chúa đoái thương. Nhưng người Ngài gọi là có phúc lại toàn là những người ai cũng thương hại. Vài người quay sang nhìn người ngồi bên cạnh, không chắc mình có nghe nhầm.
“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.”
Những người nghèo trong xứ nghe câu ấy trước tiên. Có người ngẩng lên, như vừa nghe có ai gọi mình. Nhưng cái nghèo Ngài nói còn sâu hơn cái túi rỗng. Ấy là cái nghèo của người đứng trước mặt Thiên Chúa với hai bàn tay trắng, biết rằng đến từng hơi thở của mình cũng là quà Chúa cho. Người như thế không nắm giữ gì cho riêng mình, nên Thiên Chúa có thể đặt trọn Nước Trời vào tay họ.
Ngài nói tiếp, không để ai kịp hỏi:
“Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.”
Câu này nghe lạ tai với dân Galilê. Họ còn nhớ ông Giuđa người Galilê, người đã dấy loạn chống lại thuế của Rôma; cuộc nổi dậy bị dập tắt, và chính ông cũng bỏ mạng. Muốn lấy lại đất của cha ông thì phải cầm gươm, hiền lành thì giành được gì. Nhưng người hiền Ngài nói tới lại giống con trâu mộng, khỏe đủ húc đổ cả bụi tre mà vẫn ngoan ngoãn kéo cày. Họ biết giận, mà vẫn nhẫn nại, không trả đũa. Mảnh đất gươm giáo không giành nổi, chính Thiên Chúa sẽ trao vào tay họ.
Tấm áo choàng sẫm màu và túi nước cạn
Hai lời kế tiếp đến liền nhau:
“Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an. Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng.”
Ở hàng gần phía trước, một bà góa khoác tấm áo choàng sẫm màu kéo vạt áo khít lại trên vai. Người sầu khổ mà có phúc sao? Đức Giêsu dừng mắt nơi bà một lúc. Ngài không bảo bà thôi buồn. Bà cứ được buồn, và Ngài hứa với bà đúng điều ngôn sứ Isaia đã hứa từ xưa: sẽ có ngày Đức Chúa lau khô dòng lệ trên mọi khuôn mặt. Lời hứa ấy dành cả cho những giọt nước mắt khác nữa: nước mắt của người đến lúc nhận ra tội lỗi đã gây bao đổ vỡ trong đời mình và trong đời những người chung quanh.
Cách bà mấy chỗ, một người đàn ông dốc ngược túi nước bằng da, lắc lắc. Chẳng còn giọt nào. Ông đã leo lên đây theo con đường đầy bụi từ lúc trời chưa sáng, nên ông biết khát là thế nào. Ngài muốn những người ngồi đó khát điều ngay lành y như ông đang khát nước lúc này, khát đến nỗi ngồi đứng không yên. Người khát như thế không sao sống chung được với điều gian dối, nhất là cái gian dối trong chính lòng mình.
Con mương, mặt hồ và bờ rào
Rồi Ngài nói liền ba câu, không dừng lại giải thích câu nào:
“Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương. Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa. Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.”
Ai nghe cũng tự hiểu theo những điều mình vẫn quen thấy hằng ngày.
Người làm ruộng nghĩ tới con mương. Khơi mương dẫn nước sang ruộng nhà bên thì chính lòng mương ướt trước tiên. Ai để lòng thương chảy qua mình mà đến với người khác sẽ thấy lòng thương xót của Thiên Chúa tràn qua mình trước.
Người ngồi gần mép đồi thì nhìn xuống mặt hồ nằm yên trong nắng sớm. Đêm nào lặng gió, mặt hồ ôm trọn cả vầng trăng; gió nổi lên khuấy nước thì nó chẳng giữ lại được gì. Lòng ai không chia đôi, không một tay thờ Chúa còn tay kia thờ tiền bạc hay danh vọng, thì một ngày kia sẽ được thấy chính Thiên Chúa, Đấng người khôn ngoan theo kiểu thế gian chẳng bao giờ nhìn ra.
Còn ai từng đứng ra can hai nhà hàng xóm cãi nhau qua bờ rào thì biết người can thường bị cả hai bên mắng. Người xây dựng hòa bình vẫn bước vào giữa, rồi kiên nhẫn dựng lại những gì đã đổ, từng chút một. Đó là việc Chúa Cha vẫn làm, nên họ mang tên con cái của Cha.
Phúc cho anh em
“Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.”
Ngài kết thúc ở đúng chỗ Ngài đã bắt đầu, nơi Nước Trời. Ai sống nghèo khó trong tâm hồn, sống hiền lành, trong sạch và biết thương xót giữa một thế gian tham lam và hung bạo, sẽ thành cái gai trong mắt người đời, và sẽ phải trả giá.
Đức Giêsu quay sang những người ngồi gần Ngài nhất, mấy người đánh cá Ngài vừa gọi bỏ lưới mà theo Ngài. Lần này Ngài không nói “ai”, Ngài nói “anh em”:
“Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế.”
Ngài nói xong thì im, mắt vẫn nhìn mấy người đánh cá ngồi sát bên.
Ông Simon nghe hai chữ vì Thầy, mà chưa biết rồi đây vì hai chữ ấy ông sẽ phải chịu những gì. Chưa ai trong họ biết. Phải tới sau ngày Phục Sinh, họ mới hiểu rằng người ngồi trên cỏ hôm ấy đang vẽ chân dung chính mình. Ngài là người nghèo, người hiền lành, người có tâm hồn trong sạch và biết xót thương, người xây dựng hòa bình, và là người bị bách hại vì sống công chính. Ngài sẽ sống trọn từng lời trong tám mối phúc ấy, cho tới tận thập giá.
Suy niệm
Mỗi năm vào ngày 1 tháng 11, lễ Các Thánh, Hội Thánh đọc lại bài Tin Mừng này. Các thánh là những người đã tin tám mối phúc ấy là thật, và đã sống theo.
Phần đông các ngài không có tên trên lịch, và ngày 1 tháng 11 cũng là ngày của các ngài. Ngay cả những vị có tên trên lịch, lúc sống nhiều khi cũng chẳng có gì nổi bật. Thánh André Bessette là một thầy dòng ốm yếu, gần như không được đi học, đến nỗi dòng Thánh Giá ở Montréal suýt cho thầy về. Rốt cuộc nhà dòng giao cho thầy việc giữ cổng trường. Về già, thầy hay nói đùa rằng hồi mới vào, bề trên chỉ cho thầy ra cửa, và thầy đứng ở cửa luôn bốn mươi năm. Qua cánh cổng ấy, người đau ốm và người khốn khó tìm đến, và thầy cầu nguyện với họ, xin Thánh Giuse giúp đỡ. Năm 1937 thầy qua đời, gần một triệu người đã xếp hàng đi qua linh cữu thầy. Năm 2010, Hội Thánh tôn phong thầy lên bậc hiển thánh.
Ngay trong họ đạo của bạn chắc cũng có một người như thế, một bà cụ quét nhà thờ mấy chục năm không ai để ý. Lần tới đi lễ sớm mà gặp bà, bạn dừng lại hỏi thăm bà một câu, rồi cảm ơn bà.
Ghi chú lịch sử và Tin Mừng (bấm để mở)
Ghi chú: Tám Mối Phúc: Mt 5,1-12. Thánh Luca kể một bài giảng tương tự “ở một chỗ đất bằng”, chỉ có bốn mối phúc kèm bốn lời than “khốn cho” (Lc 6,17-26). Bản Kinh Thánh tiếng Việt quen dùng đặt câu “hiền lành” trước câu “sầu khổ” theo thứ tự của bản Latinh; nhiều bản khác đảo lại hai câu này. Lời hứa ủi an người sầu khổ ở Xion: Is 61,2-3; lau khô dòng lệ: Is 25,8. Ông Giuđa người Galilê nổi dậy chống việc kiểm tra dân số để thu thuế khoảng năm 6 sau Công nguyên (Cv 5,37). Truyền thống đặt bài giảng trên một ngọn đồi gần Capharnaüm, nay gọi là núi Bát Phúc. Thánh André Bessette (1845–1937), tu sĩ dòng Thánh Giá, được phong thánh ngày 17/10/2010.
Mai mở lại hanhtrinhcanve.com/hom-nay
để đọc Hồi của ngày mai.