Bỏ qua, vào nội dung
Tranh minh họa Hồi II: Muối, ngọn đèn và dặm đường thứ hai

Muối, ngọn đèn và dặm đường thứ hai

Đọc miễn phí · khoảng 7 phút

Cỡ chữ

Muối cho đời, ánh sáng cho trần gian: Đức Giêsu gọi các môn đệ như thế. Ngài đến để kiện toàn Lề Luật, dạy làm hòa với anh em trước khi dâng lễ, và dạy yêu cả kẻ thù.

Lời chúc phúc sau cùng như còn lơ lửng trên sườn đồi. Đức Giêsu vẫn ngồi trên cỏ, đưa mắt nhìn từng gương mặt trước mặt Ngài: mấy người đánh cá áo còn mùi thuyền, những người làm ruộng da cháy nắng, những bà mẹ bế con trên hông. Toàn là những người chẳng mấy ai coi là quan trọng. Ngài đặt cho họ hai cái tên mới, lấy từ hai thứ bình thường nhất trong mọi căn nhà:

“Chính anh em là muối cho đời… Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.”

Muối thì ai cũng rành. Dưới bờ hồ, ở Mácđala, người ta ướp muối cá cả từng kho, để cá khỏi ươn trên đường đem đi bán. Người đàn bà nào ngồi trên sườn đồi cũng biết hạt muối nằm trong hũ thì chẳng làm được gì. Phải bỏ vào nồi, để hạt muối cứng cỏi chịu tan ra, lẫn hẳn vào nước canh. Chỉ khi ấy người ta mới nếm được vị mặn. Người môn đệ cũng vậy: lòng tốt cất kỹ trên gác cao thì chẳng ướp mặn được cho ai.

Ngài nói thêm một lời cảnh giác. Muối người ta lấy ở bờ Biển Chết thường lẫn cát sạn. Gặp nước, phần muối thật tan trôi đi hết, chỉ còn lại nắm sạn xám xịt, nếm chẳng còn mặn. Người ta hốt nó ra đổ ngoài đường. Muối đã nhạt như thế thì “chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.”

Ngọn đèn trên đế

Ngài nói sang chuyện ánh sáng. Nhà ở làng phần nhiều chỉ có một gian để sinh hoạt, và cả nhà chỉ có một ngọn đèn đất nung. Người ta đặt nó lên đế cho cao, để chút lửa nhỏ soi tới từng góc. Chẳng bà nội trợ nào thắp đèn lên rồi lại lấy cái thùng đong lúa úp lên trên.

Bên kia mặt nước, thành Hippos nằm trên đỉnh đồi. Ban đêm, đứng ở đâu quanh hồ cũng trông thấy đèn lửa của thành ấy. Đức Giêsu giơ tay chỉ về phía ấy, và vài người quay đầu nhìn theo.

“Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được.”

Các môn đệ của Ngài phải sống sao cho người ta nhìn thấy được, “để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.”

Một chấm một phết

Đức Giêsu nói tới Lề Luật Môsê, và mấy ông lớn tuổi ngồi phía trước ngẩng phắt lên. Lề Luật là kho báu của dân Israel. Người thầy mới này có sắp gạt nó sang một bên không? Ngài nói:

“Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải để bãi bỏ, mà là để kiện toàn.”

Ngài còn nói thêm rằng dù chỉ một chấm một phết trong Lề Luật cũng không qua đi. Mấy ông lớn tuổi thở ra, nhẹ nhõm. Ngài không gạt bỏ chữ nào, mà dẫn từng chữ về lại tấm lòng của Thiên Chúa, Đấng đã ban Luật. Ngôn sứ Giêrêmia đã hứa sẽ có ngày Thiên Chúa khắc Lề Luật vào tận tim dân Người, chứ không chỉ trên bia đá. Ngài lần lượt nói về từng điều răn, mở đầu bằng một câu người nghe sẽ còn nhớ mãi: “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng… Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết.” Lần nào Ngài cũng xuống tới tận gốc, như người làm ruộng biết rằng bứt ngọn cây gai thì tuần sau lại phải nhổ nữa.

Điều răn dạy chớ giết người, và phần đông những người ngồi nghe đều có thể nói: Tôi chưa giết ai bao giờ. Đức Giêsu đào sâu xuống tới cơn giận nằm dưới đáy lòng. Ai nuôi hận với anh em mình, hay mắng người ta là đồ ngốc, đồ đầu rỗng, như tiếng chửi “Raca” người thời ấy vẫn dùng, thì đã bước chân vào con đường dẫn tới chỗ giết người.

Trong đám đông có một người đàn ông đang dành dụm từng đồng để mua một con chiên, đem lên Giêrusalem dâng vào dịp lễ sắp tới. Lời Đức Giêsu nói tiếp theo như nói cho chính ông, và cho mọi người giống ông:

“Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình.”

Từ Galilê lên tới Đền thờ là ba bốn ngày đi bộ. Ngài lại bảo cứ để con chiên đứng đó, trước bàn thờ, quay về tìm người anh em, làm hòa xong rồi hãy trở lại. Dâng lễ là việc thánh của một người Israel, và Đức Giêsu đặt người anh em đang giận mình lên trước cả việc ấy.

Rồi Ngài nói rằng ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi, và ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình. Mấy bà ngồi nghe bỗng thấy mình được che chở.

Luật xưa dạy “mắt đền mắt, răng đền răng” là để báo thù không vượt quá mức. Ngài đi xa hơn:

“Còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên kia ra nữa. … Nếu có người bắt anh đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dặm.”

Có người khẽ lắc đầu. Nhiều người đàn ông ngồi đó từng bị lính đi ngang bắt vác đồ cho hết một dặm. Họ còn nhớ cái cảm giác ấy: bao đồ đè trĩu vai, mồ hôi chảy cay mắt, vừa vác vừa tức, đếm từng bước cho hết quãng đường, tới nơi thì quăng bao xuống đất, không thèm nhìn mặt người lính.

Ngài bảo khi đã hết dặm ấy rồi thì cứ vác tiếp, đi thêm một dặm nữa. Lần này là vì mình muốn.

Mặt trời và cơn mưa

Sau cùng, Ngài nói những lời mang đậm lòng Thiên Chúa hơn cả:

“Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính.”

Trên sườn đồi ấy, chẳng ai cần hỏi kẻ thù của mình là ai. Có người đã nghĩ ngay ra một cái tên trước khi Ngài nói hết câu: có thể là người lính hôm trước bắt mình vác đồ, gã thu thuế lấy quá phần, hay chính người anh ruột đã giành mảnh vườn của cha. Họ đã chờ một lời cho phép ghét người ấy, và lời họ nghe được lại là hãy yêu.

Nắng lúc ấy đã lên cao, rọi xuống khắp sườn đồi, trên đầu người ngay thẳng lẫn kẻ gian manh đang ngồi lẫn trong đám đông, chẳng chừa ai. Năm ấy, cũng một cơn mưa xuân đã rơi xuống ruộng lúa mạch của người ngay và ruộng của kẻ gian ở sát bên.

Ngài khép lại bằng một câu gom tất cả những lời trước vào làm một:

“Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.”

Suy niệm

Trong danh bạ điện thoại của bạn, có khi vẫn còn một cái tên mà từ sau đám tang của cha mẹ, bạn chưa bấm gọi lần nào. Hay một người bạn đã nói một câu từ mấy năm trước mà tới giờ bạn vẫn chưa quên được. Đức Giêsu đặt người ấy lên trước cả lễ vật bạn mang tới bàn thờ.

Bạn không gỡ được hết mọi chuyện trong một ngày. Nhưng bạn có thể bấm số gọi, hay viết vài dòng nhắn tin, hay ít ra thì đừng nhẩm đi nhẩm lại trong đầu trận cãi nhau cũ nữa. Tối nay trước khi ngủ, bạn nhắc tên người ấy với Chúa và xin Chúa chúc lành cho họ, trước khi xin bất cứ điều gì cho mình.

Ghi chú lịch sử và Tin Mừng (bấm để mở)

Ghi chú: Muối và ánh sáng: Mt 5,13-16; Lề Luật được kiện toàn: Mt 5,17-20 (“dù chỉ một chấm một phết trong Lề Luật cũng không thể qua đi”: Mt 5,18); sáu lời “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết”: Mt 5,21-48 (ở đây kể năm; lời về thề thốt: Mt 5,33-37). Lời hứa khắc Lề Luật vào lòng: Gr 31,33. Lời về ly dị: Mt 5,31-32; về sau Ngài còn nói rõ hơn khi trả lời người Pharisêu (Mt 19,3-9). Mácđala còn có tên Hy Lạp nghĩa là “nơi ướp cá”. Muối lấy ở vùng Biển Chết thường lẫn tạp chất; khi chất muối bị nước rửa trôi, phần còn lại mất vị mặn. Hippos là một thành thuộc vùng Thập Tỉnh, xây trên đỉnh đồi ở bờ đông hồ Galilê. Lệ lính được bắt dân vác đồ có từ thời Ba Tư; quân Rôma và lính của các vua chư hầu như Hêrôđê Antipas đều dùng. Câu Mt 5,40 về chiếc áo trong được lược ở chỗ có dấu “…”. Nhiều nhà chú giải cho rằng cái tát vào má phải là cái tát trái tay, kiểu người trên làm nhục kẻ dưới.

Hồi tiếp theo →Kinh Lạy Cha, tiếng “Cha ơi” giữa bãi cỏ

Mai mở lại hanhtrinhcanve.com/hom-nay
để đọc Hồi của ngày mai.