Bỏ qua, vào nội dung
Tranh minh họa Hồi VII: Trên núi Ôliu, lời dặn dò về ngày sau hết

Trên núi Ôliu, lời dặn dò về ngày sau hết

Đọc miễn phí · khoảng 7 phút

Cỡ chữ

Chiều thứ Ba, trên núi Ôliu, Đức Giêsu dặn các môn đệ phải tỉnh thức, qua chuyện mười cô đợi chàng rể, ba người đầy tớ và chiên dê. Rồi Ngài báo hai ngày nữa sẽ bị nộp.

Đức Giêsu cùng Nhóm Mười Hai bước ra khỏi Đền thờ khi chiều thứ Ba ấy đã muộn. Ngài sẽ không còn giảng dạy trong các sân ấy nữa. Sau lưng thầy trò, đền thánh bắt nắng xế. Công trình ấy đã xây hơn bốn mươi năm mà vẫn chưa xong hẳn. Có những tảng đá thợ của vua Hêrôđê xếp vào tường còn dài hơn một chiếc thuyền đánh cá. Một môn đệ không nén được, buột miệng:

“Thưa Thầy, Thầy xem: đá tảng lớn quá! Công trình đồ sộ thật!”

Ngài đáp:

“Anh em có thấy tất cả những cái đó không? Thầy bảo thật anh em: tại đây, sẽ không còn tảng đá nào trên tảng đá nào mà không bị tháo đổ.”

Không ai đáp lại. Thầy trò lặng lẽ băng qua thung lũng Kidron rồi leo lên núi Ôliu. Tới lưng chừng dốc, Đức Giêsu ngồi xuống sườn đồi, mặt hướng về Đền thờ. Các ông Phêrô, Giacôbê, Gioan và Anrê đến ngồi sát bên, hỏi riêng Ngài:

“Xin Thầy nói cho chúng con biết bao giờ những sự việc ấy sẽ xảy ra?”

Trong số những người nghe Ngài chiều hôm ấy, có người còn sống tới ngày thấy lời Ngài ứng nghiệm, không sót một tảng đá nào. Nhưng lời Ngài không dừng ở số phận một thành. Ngài nói tới ngày tận thế, ngày Con Người đến trong vinh quang, và nhất định không cho các ông biết là ngày nào:

“Còn về ngày giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên thần trên trời hay người Con cũng không, mà chỉ một mình Chúa Cha biết mà thôi.”

Ngài chỉ dặn các ông một điều:

“Anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.”

Rồi Ngài kể cho các ông nghe mấy câu chuyện.

Dầu cho những ngọn đèn

Ở các làng quê xứ Israel thời ấy, đám cưới thường rước dâu vào ban đêm. Chàng rể đi đón cô dâu về nhà, còn mười cô bạn gái của cô dâu cầm đèn đứng chờ để soi đường cho đám rước. Năm cô mang theo những bình dầu nhỏ để châm thêm, năm cô thì không. Chàng rể đến trễ, và các cô thiếp đi, lần lượt từng người.

“Nửa đêm, có tiếng la lên: Kìa chàng rể, ra đón đi!”

Các cô choàng dậy, khêu lại bấc đèn, và năm ngọn lửa đã leo lét sắp tàn. Đèn cạn dầu thì bấc cháy khét rồi tắt phụt.

“Xin các chị cho chúng em chút dầu, vì đèn của chúng em sắp tắt rồi.”

Mấy cô kia chỉ có vừa đủ cho mình. Thế là năm cô không có dầu chạy vào đêm tối đi mua. Trong lúc năm cô ấy đi vắng thì chàng rể tới; năm cô kia đã sẵn sàng, theo chàng vào dự tiệc cưới, “và cửa đóng lại”.

Một lúc sau các cô trở về, đứng ngoài gõ cửa:

“Thưa Ngài, thưa Ngài, mở cửa cho chúng tôi với!”

Từ bên trong vọng ra câu trả lời:

“Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô là ai cả!”

Đức Giêsu không nói dầu là gì. Đèn chỉ cháy bằng dầu có sẵn trong đèn. Niềm tin ngày ngày giữ gìn, lòng yêu thương đã đem ra mà sống, cũng vậy, chẳng ai vay mượn được vào phút chót. Đức tin của cha mẹ, lời kinh của vợ hay của chồng mình, cũng không châm được vào đèn của mình. Ngài dặn:

“Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào.”

Ngài nhìn bốn người đang ngồi sát bên mình, rồi kể tiếp chuyện một ông chủ sắp đi xa, giao tiền của cho ba người đầy tớ. Một yến bạc thời ấy là cả một gia tài. Người thứ nhất được năm yến, người thứ hai hai yến, người thứ ba một yến. Hai người đầu lập tức đem ra buôn bán, sinh lời gấp đôi số đã được giao. Ông chủ về, khen từng người:

“Khá lắm! Hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành!”

Người thứ ba thì đã đào một cái lỗ, chôn yến bạc xuống đất. Anh đem nó lên trả, đất cát vẫn còn bám:

“Tôi đã sợ, mới đem chôn giấu yến bạc của ông dưới đất. Của ông vẫn còn nguyên đây này!”

Anh chẳng làm mất gì, mà cũng chẳng làm được gì, nhưng ông chủ lại quở anh nặng nhất. Anh cứ đinh ninh ông chủ khắt khe, nên chẳng bao giờ dám thử. Ít ra anh cũng phải gửi bạc cho người đổi bạc, để ông chủ về lấy lại cả vốn lẫn lời. Đằng này, chỉ vì sợ, anh đem chôn yến bạc, để nó nằm yên dưới đất cho tới ngày ông chủ về.

Chiên về một bên, dê về một bên

Mặt trời đang lặn xuống sau thành. Bấy giờ Đức Giêsu nói về chính ngày sau hết:

“Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ được tập họp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê.”

Chiều nào người chăn chiên cũng làm việc ấy, chiên về một bên, dê về một bên.

“Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han.”

Những người bên phải ngỡ ngàng:

“Lạy Chúa, có bao giờ chúng tôi đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống?”

Họ nhớ tới một người ăn xin, một người hàng xóm đau ốm, một người lạ gõ cửa. Họ chưa bao giờ biết đó là Ngài.

“Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.”

Những người bên trái cũng hỏi y như thế, và nghe cùng một câu trả lời, nhưng theo chiều ngược lại:

“Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy.”

Đức Vua trong câu chuyện kể mình vào hàng những người đói, những khách lạ, những người tù. Còn người đang kể câu chuyện thì đã đến đứng giữa họ từ lâu. Ngài đang chỉ cho các môn đệ biết mai này tìm Ngài ở đâu, và nói trước cả những câu Ngài sẽ hỏi.

Một hồi lâu Đức Giêsu không nói gì, mắt nhìn sang thành. Đèn đóm Giêrusalem bắt đầu lên. Mãi sau Ngài mới nói:

“Anh em biết còn hai ngày nữa là đến lễ Vượt Qua, và Con Người sẽ bị nộp để bị đóng đinh vào thập giá.”

Lần này không còn câu chuyện nào nữa. Ngài nói rõ ngày, và gọi chính mình bằng cái tên quen thuộc là Con Người. Đấng vừa kể về ngày Con Người ngự trên ngai xét xử muôn dân, chỉ hai ngày nữa sẽ đứng trước tòa người ta như một bị cáo.

Ngài đứng dậy, và thầy trò đi tiếp qua đồi, về Bêtania trong bóng đêm.

Tin Mừng gần như không kể gì về ngày thứ Tư. Chỉ biết trong mấy ngày ấy, một người trong Nhóm Mười Hai đã lặng lẽ đi gặp các thượng tế.

Suy niệm

Từ những lời Đức Giêsu nói trên sườn đồi hôm ấy, cùng với kho tàng truyền thống, Hội Thánh dạy con cái mình bảy mối thương người về phần xác mà bạn đã thuộc từ hồi học giáo lý: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát nước uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, cho khách đỗ nhà, chuộc kẻ làm tôi, chôn xác kẻ chết.

Đức Vua vẫn đứng lẫn giữa những người nghèo bạn gặp mỗi ngày. Bạn bắt đầu từ một mối thôi. Mang một bữa cơm sang cho bà cụ hàng xóm mới ở bệnh viện về. Mua ổ bánh mì cho người bán vé số hay ngồi ở đầu hẻm, rồi hỏi tên người ấy.

Xong rồi thì đừng kể với ai. Những người bên phải Đức Vua đâu có biết mình đã cho ai ăn. Một ngày kia bạn sẽ biết.

Ghi chú lịch sử và Tin Mừng (bấm để mở)

Ghi chú: Bài giảng trên núi Ôliu: Mt 24–25; Mc 13; Lc 21. Lời các môn đệ trầm trồ và câu hỏi của bốn ông: Mc 13,1-4; lời Ngài về Đền thờ: Mt 24,1-2. Đền thờ bị quân Rôma phá năm 70. Đền thờ đã xây bốn mươi sáu năm: Ga 2,20; công trình chỉ hoàn tất ít năm trước khi bị phá. Về ngày giờ không ai biết: Mt 24,36; Mc 13,32; vế “hay người Con cũng không” có trong các bản chép tay cổ, và các Giáo phụ hiểu là Ngài không được sai đến để tỏ ngày ấy cho chúng ta. Hãy sẵn sàng: Mt 24,44. Mười cô trinh nữ: Mt 25,1-13; các yến bạc: Mt 25,14-30, một yến bạc bằng khoảng sáu ngàn quan tiền, tức tiền công hai mươi năm làm thuê. Cuộc phán xét: Mt 25,31-46. Còn hai ngày nữa: Mt 26,2. Ông Giuđa đi gặp các thượng tế: Mt 26,14-16; Mc 14,10-11 (kể lại ở Chương III, Hồi III). Ngài ngồi trên núi Ôliu đối diện Đền thờ: Mc 13,3.

Hồi tiếp theo →Chậu nước thay cho ngai vàng

Mai mở lại hanhtrinhcanve.com/hom-nay
để đọc Hồi của ngày mai.

Trang này miễn phí nhờ bạn đọc đồng hành. Tìm hiểu thêm