
“Thưa bà, đây là con của bà”, mẹ đứng bên thập giá
Bên chân thập giá, bà Maria đứng cùng ông Gioan. Đức Giêsu nhìn xuống, trao mẹ mình cho người môn đệ thương mến, và từ giờ ấy ông Gioan rước bà về nhà mình.
Ngay bên thập giá, gần đến nỗi nghe rõ cả tiếng Ngài thở, mấy người phụ nữ đứng nép vào nhau giữa những tiếng cười nhạo. Một người trong họ là mẹ Ngài.
“Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Clôpát, cùng với bà Maria Mácđala.”
Cùng đứng với các bà có Gioan, người môn đệ được Đức Giêsu thương mến.
Những người khác đã bỏ chạy trong đêm. Ông Phêrô đã ra ngoài khóc lóc thảm thiết khi nghe gà gáy. Trong Nhóm Mười Hai, chỉ một mình người môn đệ ấy có mặt trên ngọn đồi.
Bà Maria đứng đó. Bà không bỏ chạy, cũng không ngã quỵ. Bao nhiêu thế kỷ nay, người Công giáo vẫn hát về dáng đứng ấy trong bài ca Đức Mẹ Sầu Bi, bài ca mở đầu bằng hình ảnh người mẹ đứng khóc bên thập giá, ở lại gần Con cho tới phút cuối cùng.
Hơn ba mươi năm trước, trong Đền thờ, cụ già Simêon đã bồng đứa con đầu lòng của bà trên tay mà nói:
“Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.”
Bà hiểu ra cụ muốn nói gì. Bà ngước lên nhìn Con. Đó là khuôn mặt bà đã ngắm từ thuở Con còn nằm nôi, giờ bầm tím và loang máu. Còn đôi bàn tay ngày nào bà ngồi nhìn Con tập cầm cưa cầm bào bên cạnh cha, giờ bị đóng đinh vào gỗ.
Mẹ Ngài đứng đó
Đức Giêsu chẳng còn bao nhiêu hơi thở, vậy mà Ngài dành một ít cho mẹ. Ngài nhìn xuống, và Ngài “thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh”.
Ngài thấy mẹ đang đứng đó, và thấy cả những ngày sắp tới của mẹ. Hẳn ông Giuse đã qua đời từ lâu. Ở thời ấy, một bà góa mất đứa con trai duy nhất là mất luôn người phải lo cơm áo cho mình và săn sóc mình lúc tuổi già. Đức Giêsu không còn gia tài gì để lại. Dưới chân Ngài, mấy người lính vừa chia nhau xong quần áo của Ngài. Nhưng Ngài vẫn còn một lời trăng trối.
Ngài nhìn mẹ, rồi nhìn sang Gioan đứng cạnh bà. Ngài rướn người lấy hơi.
“Thưa Bà, đây là con của Bà.”
Ngài phải dừng lại, sụm xuống, rồi lại rướn lên lần nữa. Lần này Ngài nói với ông:
“Đây là mẹ của anh.”
Tiếng Con đã gần cạn hơi. Bà Maria nghe từng chữ.
Tới nước này rồi mà Con vẫn còn lo cho mẹ.
Có đêm bà đã ôm Con trốn sang Ai Cập. Năm Con mười hai tuổi, bà đã đi tìm Con khắp Giêrusalem suốt ba ngày, rồi gặp lại Con trong Đền thờ. Giờ Con ở ngay trên đầu bà, chỉ cách một tầm tay, mà bà không với tới được. Bà không chạm được vào Con, không đưa được cho Con một ngụm nước. Bà chỉ có thể ở lại, và bà đã ở lại.
Tiếng gọi “Bà”
Ngài gọi mẹ là “Bà”, như hôm ở tiệc cưới Cana, khi tiệc hết rượu và Ngài thưa với mẹ rằng giờ của Ngài chưa đến. Hôm nay, giờ ấy đã đến. Chữ ấy cũng có nghĩa là “người đàn bà”, làm người nghe nhớ tới người đàn bà đầu tiên trong vườn Địa Đàng. Từ thế kỷ thứ hai, các Kitô hữu đã gọi Đức Maria là Evà mới. Bà Evà ngày xưa đứng bên một cái cây, nghe lời con rắn, và sự chết đã vào trần gian. Bà Maria đứng bên cây thập giá này, bên Con mình là Ađam mới. Như ở Nazarét năm nào bà đã thưa với thiên thần, giờ bà lại thưa “xin vâng”, cả với nỗi đau này nữa.
Người sắp chết thường muốn giữ người mình thương nhất ở sát bên. Đức Giêsu lại trao mẹ mình đi. Ngài trao mẹ cho Gioan, và từ xưa Hội Thánh vẫn hiểu lời trao ấy rộng hơn: nơi Gioan có mặt mọi môn đệ mà Đức Giêsu sẽ thương mến về sau. Từ trên thập giá, Ngài trao mẹ cho hết thảy những người con ấy, có cả bạn trong đó, và trao từng người con cho mẹ.
Rước mẹ về nhà
Tin Mừng kể việc Gioan làm sau đó chỉ trong một dòng:
“Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.”
Câu ấy còn có thể hiểu là ông đón bà vào đời mình, chia cho bà tất cả những gì ông có.
Ông không đợi tới khi mọi sự kết thúc. Có lẽ ngay lúc ấy, ông đã bước lại gần hơn và đưa tay ôm lấy vai bà, trong khi Con bà còn đang hấp hối ngay phía trên. Trong giờ phút lạnh lẽo nhất đời mình, người mẹ ấy lại có một người con, và Gioan có một người mẹ.
Suy niệm
Năm 1798, ở miền Trung, những gia đình Công giáo phải bỏ làng chạy vào rừng La Vang, nay thuộc tỉnh Quảng Trị, vì lính nhà vua đi lùng bắt họ. Trong rừng, họ đói, họ ốm, và đêm nào cũng sợ bị tìm ra. Theo lời các cụ truyền lại, một đêm kia khi họ đang lần chuỗi Mân Côi, một Bà hiện ra, tay bồng Hài Nhi. Bà an ủi họ, chỉ cho họ hái lá cây quanh đó nấu nước cho người ốm uống, và hứa sẽ nhậm lời những ai đến nơi này cầu nguyện. Tới nay, mỗi kỳ hành hương vẫn có hàng trăm ngàn người về đó.
Những người dân trốn trong rừng La Vang đã biết điều Gioan học được trên đồi Canvê: con cái sợ hãi ở đâu, Mẹ ở lại với con ở đó. Bạn làm như Gioan, rước Mẹ về nhà mình. Một chục kinh Mân Côi cả nhà đọc chung sau bữa cơm tối là đủ để bắt đầu.
Ghi chú lịch sử và Tin Mừng (bấm để mở)
Ghi chú: Kể theo Ga 19,25-27. Câu Ga 19,25 có thể hiểu là có ba hay bốn người phụ nữ đứng đó, tùy “chị của thân mẫu” có phải là bà Maria vợ ông Clôpát hay không. Phêrô khóc lóc thảm thiết: Lc 22,62. Lời ông Simêon: Lc 2,35. Bài ca về Đức Mẹ Sầu Bi là bài Stabat Mater bằng tiếng Latinh, có từ khoảng thế kỷ XIII, được hát trong lễ Đức Mẹ Sầu Bi ngày 15 tháng 9. Ông Giuse không được nhắc tới trong những năm Ngài rao giảng. Quần áo bị chia: Ga 19,23-24. Trốn sang Ai Cập: Mt 2,14; lạc trong Đền thờ: Lc 2,41-50; lời “xin vâng”: Lc 1,38. Tiệc cưới Cana: Ga 2,4. Người môn đệ được Chúa thương mến, theo truyền thống, là chính Thánh Gioan. Thánh Giustinô và Thánh Irênê ở thế kỷ II đã so sánh Đức Maria với bà Evà (x. St 3). Đức Mẹ La Vang: những điều trong phần Suy niệm theo lời truyền khẩu của giáo dân địa phương; năm 1961, La Vang được chọn làm Trung tâm Thánh Mẫu Toàn quốc.
Mai mở lại hanhtrinhcanve.com/hom-nay
để đọc Hồi của ngày mai.