
Dưới mái nhà Thánh Gia, trường học yêu thương và vâng lời
Trong căn nhà nhỏ ở Nazarét, ông Giuse dạy cậu bé Giêsu cầm búa, bà Maria dạy con việc nhà. Cậu vâng lời cha mẹ, lớn lên giữa bữa cơm, ngọn đèn dầu và tình thương của hai ông bà.
Những ngày trốn tránh vua Hêrôđê bên Ai Cập qua đi, gia đình nhỏ trở về Nazarét. Ông Giuse và bà Maria chưa quên lời ông Simêon. Nhưng hai ông bà không để lời ấy phủ bóng lên căn nhà. Những ngày bình yên này đâu có kéo dài mãi, nên lại càng phải quý từng ngày.
Ngôi nhà ấy cũng như mọi nhà khác ở Nazarét: tiếng cưa gỗ xoèn xoẹt ngoài sân, tiếng con quay se sợi rì rì trong nhà, mùi bánh vừa lấy ra khỏi lò đất, và buổi tối cả nhà quây quần bên ngọn đèn dầu đọc kinh trước khi tắt đèn đi ngủ. Giả như một buổi chiều nào đó bạn đi ngang qua cửa nhà ấy, chắc bạn cũng chẳng buồn ngoái lại. Ngôi nhà nhỏ ấy lại là một mạch nước ngầm chảy dưới lớp đất đá khô cằn của Nazarét, và ngày qua ngày, cậu bé Giêsu uống từ mạch nước ấy mà lớn lên.
Đôi bàn tay to của ông Giuse
Tin Mừng không ghi lại một lời nào ông Giuse nói. Ta chỉ biết ông qua những việc ông làm.
Ta quen gọi ông là thợ mộc, nhưng nghề của ông rộng hơn thế: ông là thợ làm nhà, làm đồ, quen tay với gỗ, với đá, có khi cả với sắt. Ông dựng khung cửa, gác xà nhà, đóng cày và đóng ách cho nhà nông, vác những món đồ nặng đến tối về vai còn ê ẩm. Đó là việc nặng nhọc, đổ nhiều mồ hôi, và Thiên Chúa đã chọn để một người thợ như thế nuôi dạy Con mình.
Khi biết bà Maria có thai mà đứa con không phải của mình, ông không biết phải làm sao. Ông là “người công chính”, thương bà mà cũng không muốn làm trái Luật. Ông trằn trọc mấy đêm, rồi quyết định âm thầm cho bà đi.
Đừng để ai bêu xấu cô ấy.
Đang lúc ông toan tính như vậy thì thiên thần hiện đến với ông trong giấc mơ, và ông đón bà về nhà, chịu lấy mọi lời ra tiếng vào của dân làng. Khi vua Hêrôđê lùng bắt Hài Nhi, ông trỗi dậy giữa đêm, đưa vợ con đi một mạch sang tận Ai Cập, bỏ lại nhà cửa và nghề nghiệp sau lưng.
Trong xưởng thợ, ông dạy nghề cho con. Ông đặt cái bào vào đôi tay nhỏ của con trai, khum đôi bàn tay to của mình bên ngoài, rồi cùng con đẩy tới, từng nhát đều đặn. Mấy tấm ván đầu tiên cậu bé bào ra còn lồi lõm, phoi bào dính đầy trên tóc. Người cha chỉ cười, đưa cho con tấm ván khác và để con thử lại. Trong lòng, ông biết cậu bé đứng bên bàn thợ của mình là đứa con Thiên Chúa trao cho ông nuôi dạy, nên ông dạy con thong thả và hiền hậu.
Ông cũng dạy con những lời kinh mà người đàn ông Do Thái nào cũng đọc, và cho con thấy thế nào là người công chính: ngày ngày, qua trăm điều chọn lựa nhỏ, cứ uốn đời mình lại cho khớp với ý Thiên Chúa.
Chiếc rương gỗ trong lòng bà Maria
Người cha vững chãi bao nhiêu thì bà Maria dịu dàng bấy nhiêu. Con bập bẹ những tiếng đầu tiên thì bà lắng nghe và đáp lại. Cũng từ môi mẹ, cậu bé được nghe danh Thiên Chúa gọi lên lần đầu bằng cả tấm lòng yêu mến. Tối tối bà ru con ngủ bằng những thánh vịnh bà thuộc từ hồi con gái, bài bắt đầu bằng câu “Chúa là mục tử chăn dắt tôi”, bài có câu “Tôi ngước mắt nhìn lên rặng núi”. Cậu bé nằm nghe mẹ hát về Thiên Chúa, rồi mắt cứ thế díu lại.
Bà Maria không phải người nói nhiều. “Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.” Có những điều về đứa con này bà chưa hiểu hết: lời thiên thần truyền tin, mấy người chăn chiên tìm đến bên máng cỏ giữa đêm, lời ông Simêon về lưỡi gươm. Bà không nằng nặc đòi cho ra lẽ, mà cũng không gạt đi. Bà cất những điều ấy trong lòng, như các bà mẹ ngày xưa cất mấy món của quý dưới đáy rương gỗ, thỉnh thoảng lấy ra ngắm lại rồi cất vào. Nơi mẹ mình, Đức Giêsu học được thế nào là tin cậy Thiên Chúa khi chưa biết mọi chuyện rồi sẽ đi về đâu.
Cậu bé dạ vâng
Và giữa ngôi nhà ấy, có cậu bé Giêsu.
“Lấy cho cha cái búa nào, con.”
“Con chạy ra giếng xách cho mẹ vò nước nào.”
“Chưa được đâu con. Ăn tối xong đã.”
Cậu bé dạ vâng, như mọi đứa trẻ ngoan trong làng. Cuối ngày cậu quét sạch phoi bào trên nền xưởng, và xách vò nước từ giếng về mà không cần ai nhắc đến lần thứ hai.
Gió và biển được dựng nên nhờ Ngài, và một ngày kia gió và biển sẽ im phăng phắc khi Ngài lên tiếng. Vậy mà suốt bao nhiêu năm, trong những việc vặt như lấy cái búa, xách vò nước, Ngài dạ vâng một bác thợ làng và một người mẹ trẻ. Đấng Tạo Hóa vâng lời chính những người Ngài đã dựng nên, và Ngài vâng lời họ cách vui vẻ, ngày này qua ngày khác.
Xưa kia trong vườn Êđen, con người đầu tiên đã nói “không” với Thiên Chúa, và tội lỗi bắt đầu từ đó. Giờ đây, trong một mái nhà nghèo ở Nazarét, Đức Giêsu ngày nào cũng thưa “vâng” với mẹ và với ông Giuse, và những tiếng vâng nho nhỏ mỗi ngày ấy bắt đầu gỡ lại tiếng “không” thuở trước.
Suy niệm
Ông Giuse của nhà bạn là ai? Một người ít nói, chẳng bao giờ kể công, cứ lặng lẽ làm lụng để cả nhà có bữa ăn và mái nhà che mưa nắng. Đó có thể là ba bạn, ngày nào cũng đi phụ hồ từ sáng sớm, là mẹ bạn gánh hàng ra chợ khi trời còn tối, hay người chồng, người vợ đêm nào cũng nằm xuống bên bạn, lưng mỏi nhừ.
Những người như thế hiếm khi được ai cảm ơn. Đừng đợi tới lúc họ không còn nữa mới nói. Trước khi tắt đèn đi ngủ, bạn thử nói nhỏ một câu “Con cảm ơn ba” hay “Cảm ơn mình hôm nay đã vất vả”. Chỉ một câu thôi cũng làm cho nhà bạn giống mái nhà Nazarét thêm một chút.
Ghi chú lịch sử và Tin Mừng (bấm để mở)
Ghi chú: Trốn sang Ai Cập và trở về Nazarét: Mt 2,13-23; Thánh Luca thì chỉ kể rằng sau khi chu toàn mọi điều Luật dạy, gia đình trở về Nazarét (Lc 2,39), không nhắc chuyện Ai Cập. Nghề của ông Giuse: Mt 13,55; chữ Hy Lạp Tin Mừng dùng là “tekton”, chỉ người thợ làm nhà, làm đồ bằng gỗ, đá. Ông Giuse là “người công chính” và định âm thầm cho bà Maria đi: Mt 1,19-24. Hai thánh vịnh: Tv 23,1 và Tv 121,1. Bà Maria ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng: Lc 2,19, và một lần nữa ở Lc 2,51. Ađam nói “không”: St 3. Thánh Phaolô cũng đặt Ađam cũ bên cạnh Đức Kitô như thế (Rm 5,19). Tin Mừng gần như không kể gì về ngôi nhà ở Nazarét; cảnh trong nhà và trong xưởng thợ được kể theo nếp sống thời ấy. Gió và biển vâng lời Ngài: Mc 4,39-41.
Mai mở lại hanhtrinhcanve.com/hom-nay
để đọc Hồi của ngày mai.