
Nazarét, khi người nhà hóa người dưng
Về Nazarét quê nhà, Đức Giêsu đọc lời Isaia trong hội đường và nói lời ấy ứng nghiệm hôm nay. Người làng nổi giận đẩy Ngài ra mép núi, nhưng Ngài đi qua giữa họ.
Đức Giêsu về lại Nazarét, nơi Ngài đã lớn lên. Ngôi làng vẫn y như cũ. Vẫn những con đường đất bụi, những mái nhà bằng thấp lè tè, tiếng gà gáy lúc trưa oi. Những gương mặt cũng chẳng đổi khác: bác thợ rèn ở cuối đường, mấy bà mấy chị ngồi xay bột trong sân, đám con trai năm xưa từng chạy đua với Ngài qua các lối ngõ, nay đã lớn, đã có vợ có con. Đâu đó giữa mấy dãy nhà ấy vẫn còn bà cụ có cánh cửa gỗ hay xệ xuống, ngày trước Ngài vẫn ghé nâng lên, chêm lại cho bà.
Nhưng chuyện về Ngài đã về làng trước Ngài: chuyện rượu ngon ở Cana, và những chuyện người ta truyền tai nhau về Ngài ở Capharnaüm. Ngày sa-bát, hội đường nhỏ chật kín người. Nhiều người đến nghe Kinh Thánh thì ít, đến xem cậu con trai ông Giuse thì nhiều: anh thợ mộc đóng cửa xưởng đi xuống miền nam ngày nào, giờ không biết ra sao. Họ cũng hơi hãnh diện về Ngài. Họ tò mò, và có người ganh tị.
Ngài vào hội đường, như Ngài vẫn quen làm trong ngày sa-bát. Từ hồi ngồi chân còn đung đưa chưa chấm tới đất, Ngài đã ngồi trên những bệ đá dọc tường này. Hôm nay Ngài đứng lên đọc Sách Thánh, và người giúp việc trao cho Ngài cuộn sách ngôn sứ Isaia. Ngài mở cuộn sách ra, hết cột chữ này sang cột chữ khác, cho tới đúng chỗ Ngài muốn đọc.
Ngài đọc bằng giọng trầm ấm, đều đặn. Cả gian phòng lặng đi:
“Thần Khí Đức Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Đức Chúa.”
Ai ngồi trong phòng hôm ấy cũng hiểu câu cuối nói về năm toàn xá, năm nợ nần được xóa và nô lệ được tha về. Tin Mừng ấy dành cho người nghèo, người bị giam cầm, người mù, những người bị đè nặng dưới gánh mà họ không gánh nổi. Trong đó không có chữ nào nói tới gươm giáo, hay chuyện đánh đuổi người Rôma.
Ngài cuộn sách lại, trả cho người giúp việc, rồi ngồi xuống, như một thầy dạy ngồi xuống để bắt đầu giảng giải.
“Mọi người trong hội đường đều chăm chú nhìn Người.”
Không ai nhúc nhích trên những bệ đá dọc tường. Cả đám con nít ở cuối phòng, mọi khi ngọ nguậy suốt giờ đọc sách, giờ cũng ngồi im thin thít.
Ngài chỉ nói một câu ngắn:
“Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe.”
Hôm nay. Đấng mà ngôn sứ Isaia hứa từ bao đời đang ngồi ngay đây, trong hội đường nhỏ của làng Nazarét, đôi bàn tay còn chai sạn vì nghề thợ mộc.
Lúc đầu, người ta nghe mà thích. Ai cũng tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Ngài. Được một lúc, tiếng xì xào bắt đầu, mới đầu còn khe khẽ, sau mỗi lúc một to:
“Ông này không phải là con ông Giuse đó sao?”
Mình biết nó mà. Biết mẹ nó, biết bà con họ hàng nó, biết cả cái nhà nó lớn lên. Nó đóng bàn cho nhà mình, sửa ách cho bò nhà mình. Nó tưởng nó là ai mà ăn nói như một ngôn sứ?
Thiên Chúa làm người giống hệt mọi người, và đó lại là chỗ khó tin nhất. Một Đấng Mêsia từ trên mây bước xuống, chói lòa và xa lạ, có khi họ còn tin được. Còn người từng bào khung cửa cho nhà họ thì không. Ngài gần họ quá, giống họ quá.
Đức Giêsu biết họ đang nghĩ gì, và Ngài nói thay cho họ:
“Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ: Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Capharnaüm, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào!”
Họ muốn được xem Ngài làm phép lạ: đã nổi tiếng thật rồi thì làm đi, ngay ở đây, cho người làng mình được thấy trước đã.
Bà góa ở Xarépta
Nhìn những gương mặt háo hức ấy, Ngài buồn. Đây là những người hàng xóm của Ngài, và chính vì thương họ mà Ngài không chịu làm trò cho họ xem. Ngài nói ra điều họ không muốn nghe:
“Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình.”
Ngài nhắc lại hai câu chuyện họ đã nghe từ hồi còn nhỏ. Thời ngôn sứ Êlia, trời không đổ một giọt mưa suốt ba năm sáu tháng, trong Israel thiếu gì bà góa, mà Thiên Chúa lại sai ông đến với một bà góa ở Xarépta, miền Xiđôn, một người dân ngoại. Thời ngôn sứ Êlisa, trong Israel thiếu gì người phong hủi, nhưng người duy nhất được sạch lại là ông Naaman, người xứ Xyri, cũng là dân ngoại.
Họ hiểu Ngài muốn nói gì. Quê nhà không đón nhận thì sẽ có người khác đón nhận, mà người khác ấy có khi lại là dân ngoại.
Trên mép núi sau làng
Cả hội đường nổi giận. Những người đàn ông ba chục năm nay sáng nào gặp Ngài cũng chào hỏi, giờ đứng bật dậy, túm lấy Ngài. Họ đẩy Ngài ra khỏi làng, lên tận đỉnh núi, nơi làng Nazarét được xây cất, định xô Ngài xuống vực.
Đức Giêsu đứng bên mép vực, đá vụn dưới gót chân lăn lách cách xuống dưới. Ngài nhìn những khuôn mặt chung quanh, đỏ gay, méo xệch vì giận, mà mặt nào Ngài cũng biết: có ông bác từng được Ngài đóng cho cái cày, có đám bạn từng chơi với Ngài ngoài đường làng. Ngài đến để mang Tin Mừng cho họ, còn họ thì muốn Ngài chết.
Nhưng giờ của Ngài chưa đến. Điều xảy ra sau đó chỉ gói trong một câu rất lặng:
“Còn Người, Người băng qua giữa họ mà đi.”
Ngài không bỏ chạy, cũng không van xin. Quay lưng lại vực, Ngài bước thẳng vào giữa đám đông. Không ai giơ tay ra cản. Những bàn tay vừa túm áo Ngài buông thõng xuống, và đám đông dạt ra hai bên cho Ngài đi, như nước Biển Đỏ năm xưa rẽ ra trước cây gậy ông Môsê. Ngài đi giữa những người vừa muốn giết mình, lặng lẽ và cô độc.
Một mình Ngài xuống con đường dốc, rời khỏi ngôi làng nơi mình đã lớn lên, qua con ngõ có xưởng mộc đã đóng cửa, qua con ngõ có nhà bà cụ năm nào.
Ngài lấy làm lạ vì họ không tin. Những người biết Ngài lâu nhất lại chẳng nhận ra Ngài là ai. Mảnh đất quê nhà đã không chịu nhận hạt giống, nên người gieo giống đem hạt xuống gieo ở một mảnh đất khác, bên bờ hồ.
Suy niệm
Cha Gioan Maria Vianney được sai về Ars năm 1818, về một làng nông nhỏ bên Pháp, nơi chẳng mấy ai còn để tâm tới Chúa. Cha quỳ hằng giờ trước Nhà Tạm, và dần dần dân làng trở lại nhà thờ. Có một ông nông dân già, chiều nào đi làm đồng về cũng ghé vào nhà thờ, ngồi thật lâu mà môi chẳng mấp máy gì. Có người hỏi ông thưa gì với Chúa suốt chừng ấy thời gian, ông đáp: “Tôi nhìn Chúa, và Chúa nhìn tôi.” Ông ngồi trước một Đấng ông đã quen cả đời, mà vẫn nhìn như lần đầu.
Bạn có thể lắc đầu chê dân làng Nazarét, nhưng chính bạn cũng dễ quen nhờn với Chúa y như họ. Vẫn kinh sáng kinh tối ấy, vẫn hàng ghế quen ở nhà thờ giáo xứ, vẫn những bài đọc năm nào cũng trở lại, rồi tới một lúc nào đó bạn chẳng còn mong đợi gì nữa. Chúa cũng đến với bạn trong bộ áo thường ngày: một người hàng xóm cần bạn đỡ đần, một chuyện không như ý mà bạn không hề chọn, một lời khuyên khó nghe của chính người trong nhà. Khi nào mở cuốn Tin Mừng ra, bạn đọc lại đoạn này thật chậm, như thể mình đang ngồi trong hội đường nhỏ ấy, và Ngài vừa trao trả cuộn sách, nhìn bạn mà nói: “Hôm nay.”
Ghi chú lịch sử và Tin Mừng (bấm để mở)
Ghi chú: Kể theo Lc 4,16-30. Thánh Máccô và Thánh Mátthêu đặt lần về quê này muộn hơn trong sứ vụ (Mc 6,1-6; Mt 13,53-58); câu “Người lấy làm lạ vì họ không tin” là Mc 6,6, ở đây ghép vào cảnh của Luca. Đoạn sách Isaia: Is 61,1-2. Năm toàn xá: Lv 25; cứ năm mươi năm một lần, nợ được xóa, nô lệ được tha về, gia đình nào lỡ mất ruộng đất thì được nhận lại phần đất của cha ông. Những việc Ngài đã làm ở Capharnaüm mà dân Nazarét nghe đồn: Lc 4,23. Chuyện bà góa Xarépta: 1 V 17; chuyện ông Naaman: 2 V 5. Theo lối giảng dạy trong hội đường thời ấy, người ta đứng để đọc Sách Thánh, rồi ngồi xuống để giảng. Câu của ông nông dân làng Ars được trích trong Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo, số 2715.
Mai mở lại hanhtrinhcanve.com/hom-nay
để đọc Hồi của ngày mai.