
Người phụ nữ Samari và cơn khát bên giếng Giacóp
Giữa trưa nắng, Đức Giêsu mỏi mệt ngồi bên giếng Giacóp ở Samari, xin một người phụ nữ cho uống nước. Ngài nói với chị về nước hằng sống, rồi nhẹ nhàng nhắc đến đời chị mà không khinh khi.
Giữa trưa, Đức Giêsu ngồi xuống bên giếng Giacóp, ngoài thị trấn Xykha của xứ Samari. Ngài “đi đường mỏi mệt”. Mặt trời đứng bóng, nắng đổ xuống những ngọn đồi trọc, ve kêu râm ran trong mấy bụi cây ven đường, trên đường không một bóng người. Con Thiên Chúa ngồi tựa lưng vào thành giếng đá còn hầm hơi nắng, mồ hôi khô dần trên mặt, đôi chân xám bụi đường. Ngài đang từ miền Giuđê trở về phương bắc, và đã chọn con đường băng thẳng qua đất Samari. Các môn đệ đã vào thành mua thức ăn, chỉ còn mình Ngài ở đó.
Rồi một người đàn bà vác vò đất trên vai đi lên con dốc. Thấy có người đàn ông ngồi bên giếng, chị chững lại một bước, rồi vẫn bước tới. Chị cần nước.
Đàn bà ở Xykha thường ra giếng lúc sáng sớm hoặc khi chiều mát, đi từng nhóm hai ba người, vừa đi vừa chuyện trò. Người này đi một mình, vào đúng giờ nắng gắt nhất trong ngày. Có lẽ chị đã quá ngán cảnh hễ mình đi ngang qua là người ta im bặt.
Chị bước vội, mắt nhìn xuống đất. Đời chị đã qua năm đời chồng. Thời ấy chỉ người đàn ông mới có quyền bỏ vợ, nên có thể chị đã bị đuổi ra khỏi nhà hơn một lần, hoặc đã chôn chồng hơn một lần. Người đàn ông chị đang ở chung bây giờ không cưới chị, mà ở một thị trấn nhỏ như Xykha thì chuyện gì người ta cũng đem ra bàn tán. Chị ra giếng vì cần nước. Nhưng sâu trong lòng, điều chị mong hơn cả, mà chẳng bao giờ dám nói ra, là có được một người trong cái thị trấn ấy nhìn mình bằng ánh mắt tử tế.
Chị chỉ định múc đầy vò rồi đi cho nhanh. Nhưng người khách lạ cất tiếng:
“Chị cho tôi xin chút nước uống.”
Chị đứng sững. Một người đàn ông Do Thái đang nói chuyện với chị.
Mối hiềm khích giữa người Do Thái và người Samari đã kéo dài mấy trăm năm. Có những người Do Thái giữ đạo nghiêm ngặt thà lội qua sông Giođan, đi vòng lên phía bờ bên kia cho xa, còn hơn đặt chân lên xứ của những người mà họ coi là ô uế, là nửa ngoại đạo. Thoạt đầu chị tưởng mình nghe nhầm, hay người này cũng định trêu ghẹo chị như mấy gã đàn ông trong thị trấn. Giữa hai người có tới ba bức tường. Người Do Thái và người Samari đến cái chén cũng không dùng chung. Đàn ông đứng đắn không bắt chuyện với đàn bà lạ ở chỗ vắng. Còn một thầy dạy đạo thì chẳng đời nào lại đi nhờ vả một người mang tiếng như chị.
“Ông là người Do Thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông nước uống sao?”
Chị ngạc nhiên cũng phải. Ngài mở đầu bằng một lời xin. Ngài chịu làm người cần giúp đỡ, một khách đi đường mỏi mệt không có gầu múc nước, để chị được làm người có cái mà cho. Đấng sẽ ban nước hằng sống lại xin chị một ngụm nước giếng. Ngài chưa cắt nghĩa điều gì, nhưng qua lời xin ấy, Ngài đã cho chị thấy chị đáng được quý trọng, và Ngài chẳng hề coi khinh chị.
Đức Giêsu trả lời:
“Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.”
Từ nước giếng đến nước hằng sống
Chị đối đáp lại, vẫn còn ngờ vực:
“Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống? Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Giacóp, người đã cho chúng tôi giếng này? Chính người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của người cũng vậy.”
Ngài kiên nhẫn dẫn chị đi từng bước, từ cái gầu, từ lòng giếng sâu hút, sang một thứ nước khác:
“Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”
Chị đặt vò nước xuống dưới chân.
“Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.”
Chị chưa hiểu Ngài muốn nói gì. Lúc ấy chị chỉ thấy mệt, mệt vì ngày nào cũng đội nắng vác vò đi lấy nước, mệt vì phải chạm mặt mấy bà mấy chị trong xóm.
Bấy giờ Đức Giêsu nhẹ nhàng đưa câu chuyện về đúng chỗ đang đau:
“Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây.”
Chị quay mặt đi, nhìn về phía dãy đồi.
“Tôi không có chồng.”
Ngài nhìn chị. Trong cái nhìn ấy không có chút khinh khi nào.
“Chị nói: ‘Tôi không có chồng’ là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng.”
Chị đứng yên, chờ cái nhìn ấy đổi khác, chờ người ta lùi lại một bước như bao lần trước. Nhưng không. Ngài vẫn ngồi đó bên bờ giếng, vẫn ôn tồn trò chuyện với chị như lúc nãy, chẳng vì những chuyện vừa nói ra mà coi chị kém đi chút nào.
Ông ấy biết, chị nghĩ. Ông ấy biết hết, vậy mà ông ấy vẫn không bỏ đi.
Ngài biết từng cuộc hôn nhân đã tan, dù tan vì lẽ gì, và những đêm chị khóc thầm một mình. Bao năm nay chị mang một cơn khát sâu hơn mọi lòng giếng. Chị tìm đến chỗ dựa nào thì chỗ ấy cũng như nước biển giữa trưa hè, càng uống càng khát. Ngài chạm vào đúng vết thương ấy, vì Ngài muốn chữa lành nó.
Thờ phượng trong thần khí và sự thật
Chị nhận ra người đang nói chuyện với mình là một vị ngôn sứ. Và chị làm điều người ta vẫn hay làm khi câu chuyện chạm vào chỗ kín quá: chị lái sang chuyện đạo.
“Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ. Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này; còn các ông lại bảo: Giêrusalem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa.”
Ngọn núi chị nói là núi Garidim, sừng sững ngay phía trên đầu hai người.
Đức Giêsu đáp:
“Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem. Các người thờ Đấng các người không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do Thái. Nhưng giờ đã đến, và chính là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật.”
Thiên Chúa không để ai nhốt mình trên ngọn núi này hay bất cứ ngọn núi nào. Người đang ở đây, bên bờ giếng này, trong cuộc trò chuyện giữa một thầy dạy người Do Thái và một phụ nữ Samari có quá khứ nặng nề. Hơn mọi đền thờ, Người muốn ngự vào một tấm lòng như lòng chị: sứt mẻ, đang khát, nhưng cuối cùng đã chịu nói thật.
Chị nói:
“Tôi biết Đấng Mêsia, gọi là Đức Kitô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.”
Đức Giêsu nhìn chị. Ngài sắp nói một điều chưa từng nói rõ như thế với ai, kể cả các môn đệ. Ngài lại nói ra ở đây, giữa trưa, bên một cái giếng ở xứ Samari, với một người mà cả thị trấn tránh mặt:
“Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây.”
Chị không trả lời, bỏ quên cả cái vò nước nằm nghiêng bên miệng giếng. Cái vò ấy là lý do chị ra đây, là gánh nặng ngày nào chị cũng vác lên con dốc này, giờ bỗng chốc chẳng còn nghĩa lý gì. Chị chạy về thị trấn, về đúng chỗ những người chị vẫn lánh mặt, và gọi to giữa đường:
“Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao?”
Người đàn bà một mình ra giếng giữa trưa đã thành người đầu tiên đem tin về Đức Giêsu vào đất Samari. Cả những người vẫn xì xào sau lưng chị cũng buông việc đang làm, theo chị ra khỏi cổng, như hàng xóm nghe nhà bên có chuyện là bỏ dở mọi thứ chạy sang.
“Họ ra khỏi thành và đến gặp Người.”
Đức Giêsu ngồi bên giếng nhìn họ băng qua cánh đồng mà đến, một hàng người đi giữa ruộng lúa mạch xanh dưới nắng chiều.
Họ nài xin Ngài ở lại với họ, và Ngài ở lại. Nhiều người nữa tin, và họ nói với chị:
“Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian.”
Suy niệm
Lạy Chúa, Chúa biết những cái giếng con cứ quay lại hoài mà chẳng bao giờ đỡ khát: món đồ mới mua về, lời khen con cố câu cho bằng được, những thú vui làm con trống rỗng hơn lúc trước. Chúa biết cả những góc đời con mong Chúa đừng nhắc tới.
Dù vậy, xin Chúa cứ ngồi lại với con, như Chúa đã ngồi với chị ấy giữa trưa nắng. Xin Chúa cứ xin con những gì con có, dù chỉ là một chén nước. Rồi xin cho con thứ nước Chúa đã hứa, để con dám bỏ lại cái vò cũ của mình mà chạy đi kể về Chúa cho một người khác nghe.
Ghi chú lịch sử và Tin Mừng (bấm để mở)
Ghi chú: Câu chuyện: Ga 4,1-42; lời Ngài hứa ban nước hằng sống: Ga 4,10. Các môn đệ vào thành mua thức ăn: Ga 4,8. Giờ thứ sáu (Ga 4,6): khoảng giữa trưa. Người Samari thờ phượng trên núi Garidim và chỉ nhận năm sách Luật Môsê; mối bất hòa giữa hai dân có từ sau thời lưu đày. Theo luật thời ấy chỉ người chồng mới được trao giấy ly dị (Đnl 24,1), nên không nhất thiết năm cuộc hôn nhân tan vỡ là lỗi của riêng chị. Lời Đức Giêsu “Đấng ấy chính là tôi” (Ga 4,26) là lần đầu trong Tin Mừng Gioan Ngài tự nhận mình là Đấng Mêsia rõ ràng như vậy. Họ ra khỏi thành: Ga 4,30; Ngài ở lại hai ngày: Ga 4,40. Ngay sau đó Ngài nói với các môn đệ về những cánh đồng đang chờ ngày gặt (Ga 4,35). Giếng Giacóp ngày nay vẫn còn, gần thành Nablus.
Lời kết Sách I
Sách I bắt đầu ở Nazarét, một làng nhỏ và nghèo đến nỗi chẳng ai trông đợi điều gì ở đó. Sách khép lại bên một bờ giếng ở Samari, giữa những người mà phần đông người Do Thái chẳng muốn uống chung một chén nước. Chính những người ấy đã nài người thợ mộc làng Nazarét ở lại với mình.
Ở sông Giođan, trời gọi Ngài là Con yêu dấu; vào hoang địa, Ngài cũng đói như mọi người. Ở Cana Ngài làm rượu cho cả một tiệc cưới, còn bên giếng Samari Ngài lại đi xin một ngụm nước. Ba mươi năm Ngài cam lòng sống lặng lẽ, chẳng ai nhớ tới. Giờ thì một làng người lạ đã nài Ngài ở lại, và Ngài ở lại. Ngài cũng sẽ ở lại nơi nào người ta mở cửa mời Ngài như thế.
Hai ngày sau, Ngài từ giã những người Samari đã tiếp đón mình. Bên miệng giếng Giacóp, Ngài đứng dậy, phủi bụi đường trên vạt áo, đưa mắt nhìn về phương bắc. Sau những dãy đồi kia là mặt hồ Galilê và những thị trấn ven hồ, nơi chẳng bao lâu nữa cả vùng sẽ xôn xao bàn tán về Ngài. Còn lúc này, trên con đường bụi trắng ấy, chỉ có một người thợ mộc với mấy người bạn, thong thả bước đi dưới nắng.
Mai mở lại hanhtrinhcanve.com/hom-nay
để đọc Hồi của ngày mai.