
“Thế là đã hoàn tất!”, Ngài gục đầu trao thần khí
Đức Giêsu nói “Thế là đã hoàn tất”, phó thác hồn mình trong tay Cha rồi tắt thở. Bức màn Đền thờ xé làm đôi, và viên đại đội trưởng Rôma nhận Ngài là Con Thiên Chúa.
Khoảng ba giờ chiều, bóng tối trên đồi Gôngôtha bắt đầu loãng dần, và những người trên đồi lại nhìn thấy Đức Giêsu. Ngài đã mất rất nhiều máu. Miệng Ngài khô tới mức lưỡi dính vào hàm, đúng như lời thánh vịnh. Đức Giêsu biết “mọi sự đã hoàn tất”. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Ngài nói:
“Tôi khát!”
Thuở mới đi rao giảng, bên một bờ giếng ở Samari, Ngài đã xin một người phụ nữ:
“Chị cho tôi xin chút nước uống!”
Rồi Ngài hứa ban cho chị thứ nước sẽ thành “một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời” trong lòng người uống. Hôm nay, chính Ngài lại phải xin những người đã đóng đinh mình cho một ngụm nước. Từ lâu, các Kitô hữu đã hiểu lời ấy còn nói lên một cơn khát sâu hơn: Ngài khát những con người Ngài đang chịu chết vì họ, khát cho họ đến với Ngài mà uống.
Gần đó có một bình giấm, thứ rượu chua rẻ tiền lính tráng vẫn uống khi đi canh gác.
“Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành cây hương thảo, rồi đưa lên miệng Người.”
Thánh Gioan nhắc tới nhành hương thảo mà không giải thích gì, nhưng người Do Thái đọc tới đó hẳn nhớ ngay tới đêm Vượt Qua năm xưa ở Ai Cập. Đêm Vượt Qua đầu tiên bên Ai Cập, người Israel đã lấy một bó hương thảo nhúng vào máu chiên, bôi lên khung cửa, và sự chết đã vượt qua nhà họ. Theo Thánh Gioan, cũng vào những giờ ấy, người ta đang sát tế chiên cho lễ Vượt Qua trong Đền thờ bên kia thành. Còn trên đồi Gôngôtha, Chiên Thiên Chúa đang chết.
Ngài nhắp chút giấm. Rồi Ngài gom chỗ hơi thở cuối cùng còn lại.
“Thế là đã hoàn tất!”
Ngài nói như người thợ mộc ở Nazarét năm nào đặt cây bào xuống khi chiếc cày đã đẽo xong. Ngài đã làm trọn công việc được giao, tới chỗ cuối cùng.
Lúc bắt đầu kể về bữa Tiệc Ly, Thánh Gioan đã viết rằng Đức Giêsu yêu thương những kẻ thuộc về mình, và “Người yêu thương họ đến cùng”. Giờ “đến cùng” ấy đã tới, và Ngài đã yêu họ trọn vẹn cho tới tận lúc này. Mọi việc Chúa Cha giao, Ngài đã làm xong. Ngài đã dâng hy lễ, một lần cho hết mọi người, và đã trả hết món nợ tội lỗi không ai trả nổi.
Phó thác trong tay Cha
Rồi Đức Giêsu kêu lớn tiếng một lần nữa:
“Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”
Ngài lại gọi Thiên Chúa là Cha. Bóng tối của giờ thứ chín đã qua, và người Con đang về nhà. Lời ấy lấy từ Thánh vịnh 31. Tới nay người Do Thái vẫn đọc câu ấy trước khi đi ngủ, và tối nào Hội Thánh cũng hát lên trong Giờ Kinh Tối. Mẹ Ngài đứng gần, nghe rõ Ngài đọc lời ấy.
“Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.”
Ngài gục đầu xuống trước, như một người mệt nhoài sau ngày dài ngả đầu xuống gối, rồi mới trao Thần Khí. Mấy tháng trước, chính Ngài đã nói về mạng sống mình:
“Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình.”
Lồng ngực Ngài thôi phập phồng.
Con Thiên Chúa, Đấng đã làm người trong lòng bà Maria, đã chết.
Trong một thoáng, trên ngọn đồi không ai động đậy. Mẹ Ngài đứng dưới chân Con trong khoảng lặng ấy. Hơi thở mà bà đã lắng nghe suốt bao nhiêu giờ đồng hồ, giờ đã tắt. Rồi mặt đất dưới chân họ rung lên.
Bức màn xé từ trên xuống dưới
Cùng lúc ấy, trong thành:
“Ngay lúc đó, bức màn trướng trong Đền thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Đất rung đá vỡ.”
Trong Đền thờ, một tấm màn lớn treo trước Nơi Cực Thánh, căn phòng trong cùng. Người Do Thái còn nhớ tấm màn ấy dày cỡ một bàn tay. Chỉ thượng tế mới được vào sau tấm màn, mỗi năm một lần, vào ngày lễ Xá Tội, tay mang theo máu của lễ vật. Tấm màn treo đó để nói rằng con người tội lỗi không thể cứ thế mà bước vào trước mặt Thiên Chúa chí thánh.
Tấm màn rách từ trên xuống, từ phía Thiên Chúa, từ chỗ không bàn tay người nào với tới. Buổi đầu sứ vụ, ở sông Giođan, các tầng trời đã xé ra trên đầu Ngài. Giờ đây, lúc cuối cùng, bức màn xé ra. Đường đến với Chúa Cha đã mở ra, và con đường ấy đi qua chính thân thể người Con.
Người lính đứng đối diện Ngài
Viên đại đội trưởng chỉ huy cuộc hành quyết đã đứng đối diện thập giá suốt buổi chiều. Ông đã thấy nhiều người chết kiểu này. Ông đã nghe người này xin tha cho những kẻ hành hình mình, hứa Thiên Đàng cho một tên gian phi, và dùng hơi thở cuối cùng để kêu lên Thiên Chúa. Rồi đất rung dưới chân ông. Viên đại đội trưởng ngước nhìn thân xác trên cây gỗ, đứng lặng. Sau cùng, ông và những người lính canh với ông sợ hãi mà nói:
“Quả thật ông này là Con Thiên Chúa.”
Lúc trưa, các thượng tế còn nói họ sẽ tin nếu Đức Giêsu xuống khỏi thập giá. Còn người lính của Rôma này đã tin, vì Ngài ở lại trên ấy.
Đám đông kéo đến xem cảnh tượng ấy “đều đấm ngực trở về”. Những người quen biết Ngài, cũng như các phụ nữ đã theo Ngài suốt từ Galilê, “đều đứng đằng xa nhìn xem các sự việc ấy”. Còn mẹ Ngài và mấy người bên cạnh bà vẫn ở sát bên.
Suy niệm
Mùa hè năm 1941, ở trại tập trung Auschwitz, có một tù nhân trốn thoát. Để trả đũa, viên phó chỉ huy trại chọn mười người đem nhốt vào hầm cho chết đói. Một trung sĩ quân đội Ba Lan tên là Franciszek Gajowniczek bị gọi tên, và ông bật khóc kêu lên thương vợ thương con. Một linh mục dòng Phanxicô gầy gò, tù nhân số 16670, bước ra khỏi hàng, xin chết thay cho ông. Viên sĩ quan đồng ý. Dưới hầm đói, cha Maximilian Kolbe dẫn những người bạn tù cầu nguyện và hát thánh ca. Ngày 14 tháng 8 năm 1941, áp lễ Đức Mẹ Lên Trời, lính canh giết cha bằng một mũi tiêm axít.
Ông Gajowniczek sống sót ra khỏi trại và sống tới năm 1995. Năm 1982, ông có mặt ở quảng trường Thánh Phêrô khi Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II tuyên phong cha Kolbe lên bậc hiển thánh, và suốt quãng đời còn lại, gặp ai chịu nghe là ông kể về vị linh mục đã chết thay cho mình.
Đời bạn hôm nay cũng có được là nhờ bao người đã hy sinh: người cha chạy thêm mấy cuốc xe ôm ban đêm cho con đi học, người bà năm 1954 bỏ lại ruộng vườn ngoài Bắc, tay trắng dắt con cháu vào Nam. Bên dưới tất cả những hy sinh ấy là cây thập giá trên đồi Gôngôtha. Một bữa cơm nào đó, bạn kể cho người trong nhà nghe về Đấng đã chết thay cho mình, như ông Gajowniczek đã kể về cha Kolbe.
Ghi chú lịch sử và Tin Mừng (bấm để mở)
Ghi chú: Kể theo Ga 19,28-30; Lc 23,46-49; Mt 27,50-54; Mc 15,37-39. Lưỡi dính vào hàm: Tv 22,16. Bên bờ giếng Samari: Ga 4,7.14. Hương thảo và máu chiên trên khung cửa: Xh 12,22. Theo Thánh Gioan, Đức Giêsu chết vào ngày áp lễ Vượt Qua, đúng lúc chiên được sát tế trong Đền thờ (Ga 19,14.31); ba Tin Mừng kia kể bữa Tiệc Ly là bữa ăn Vượt Qua. Chữ “hoàn tất” trong nguyên bản nghĩa là làm xong, làm trọn tới cùng. Bác thợ: Mc 6,3; chuyện Ngài đẽo cày theo lời Thánh Giustinô. Yêu thương đến cùng: Ga 13,1. Lời phó thác: Tv 31,6, Hội Thánh dùng làm câu xướng đáp trong Giờ Kinh Tối. Tự ý hy sinh mạng sống: Ga 10,18. Màn trướng và Nơi Cực Thánh: Xh 26,31-33; ngày lễ Xá Tội: Lv 16; độ dày của tấm màn theo sách Misna của người Do Thái. Thánh Máccô dùng cùng một chữ “xé” cho các tầng trời (Mc 1,10) và cho bức màn (Mc 15,38). Lc 23,47 ghi lời viên đại đội trưởng: “Quả thật, người này là người công chính!” Các phụ nữ đứng xa: x. Mt 27,55-56; mẹ Ngài đứng gần thập giá: Ga 19,25. Thánh Maximilian Kolbe được tuyên phong hiển thánh ngày 10 tháng 10 năm 1982.
Mai mở lại hanhtrinhcanve.com/hom-nay
để đọc Hồi của ngày mai.
Trang này miễn phí nhờ bạn đọc đồng hành. Tìm hiểu thêm